Kiến trúc nhà ở làng quê

Xưa, văn hóa sống của cha ông ta phần lớn là quẩn cư ở nông thôn, trong lũy tre làng. Nhà cửa được xây dựng hòa hợp và nương tựa vào thiên nhiên với tre, với gỗ, đất, đá… Ở kinh đô và các chốn đô hội, nhà cửa dinh thự có khác hơn, kinh op bep được xây bằng vôi vữa, gạch đá. Và trong tiếng Việt, tên gọi những chi tiết kết cấu như rui, mè, kèo, mộng, trinh. đã vô cùng quen thuộc.

Cho đến giữa thế kỷ 19, người Pháp mang theo đến nước ta một nê’n tảng kiến trúc mới với vật liệu chủ yếu là xi măng và sắt thép. Kể từ đó mà “nhập khẩu” các tên gọi chi tiết kết cấu hay vật liệu trong kiến trúc mới. Ban đẩu chúng được gọi trực tiếp bằng tiếng Pháp, theo thời gian dẩn dẩn trở nên quen thuộc với tất cả mọi người, giá kính cường lực bất kể nam phụ lão ấu. Quen thuộc đến mức rất nhiêu người hiện nay không còn nhớ nguyên ngữ của chúng là tiếng Pháp nữa!

Những cái tên như vậy, rất nhiêu. Và có thể tạm chia ra làm ba nhóm.

Nhóm một, gổm những tên vô cùng quen thuộc, tưởng chừng thuẩn Việt như ất lô (gọi tắt từ aggloméré, tức loại gạch cỡ lớn đúc bằng xi măng và cát), ban công (balcon), bê tông (béton), cốp pha (coffrage), te rát (terrasse, kính màu ốp bếp dùng trong nghĩa sân thượng), toa lét (toilette), xa lông (salon), xi măng (cément), tôn (tôle).

Nhóm hai, những từ rất quen thuộc và là thuật ngữ trong giới kiến trúc xây dựng, song còn bỡ ngỡ đối với dân “ngoại đạo”; như công xôn (console, tức dẩm chìa), lanh tô (linteau, cái đà ngang trên cửa), ô văng (auvent, mái hiên), pha xát (façade, mặt tien), ram (rampe, lan can hoặc lối đi dốc), sê nô (chéneau, máng xối).

Nhóm ba, gổm những cái tên do hoàn cảnh đã bị lãng phai như vê răng đa (véranda, tức hàng hiên), pit xin (pissine, hổ bơi).

Related Articles

Add Comment